Điện Bàn – 21 ngày đêm máu lửa

Loading

Đã 52 năm trôi qua, nhưng ngày ấy, cuộc chiến ác liệt 21 ngày đêm diễn ra tại vùng B Điện Bàn (Điện Thọ, Điện Phước, Điện An, Điện Hòa) giữa 10 ngàn quân Mỹ với một Tiểu đoàn Quân Giải phóng – Tiểu đoàn 3 (D3) Mặt trận 4 Quảng Đà vẫn luôn hiện lên trong tâm trí tôi.

Chị Vân Lan và đồng đội viếng mộ Bà mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Thứ . Ảnh: LÊ ANH DŨNG

Là người trong cuộc (Cán bộ Văn thư Văn phòng Huyện ủy Điện Bàn), tôi thấy mình phải có trách nhiệm kể lại cuộc chiến đấu không cân sức nhưng hết sức kiên cường, anh dũng của D3 diễn ra từ ngày 20.11 – 10.12.1968 mà bây giờ nhắc lại thường được gọi là “Cuộc chiến 21 ngày đêm”.

Sáng 20.11.1968, chúng tôi (Cơ quan Văn phòng và Ban Tuyên huấn Huyện ủy Điện Bàn) đang trong tư thế chống địch càn quét thì được tin có một trung đoàn Mỹ từ đồn Bồ Bồ – Điện Tiến càn xuống xã Điện Thọ, các anh lãnh đạo lùi xuống thôn Châu Lâu, phân công tôi cùng chị Trần Thị Trung (cán bộ Ban Tuyên huấn) ở lại rúc công sự tránh địch. Sau một ngày rúc công sự, nghe tiếng súng nổ rất nhiều phía trên mặt đất, tối đến, chị em trồi lên thì gặp bộ đội D3 và được biết các anh đã chiến đấu suốt ngày để ghìm chân, không cho địch vào làng và kế hoạch sẽ di chuyển quân… Chúng tôi quyết định bám theo bộ đội. Cũng từ đó chúng tôi trở thành nhân chứng sống chia lửa với các anh D3 trong suốt cuộc chiến 21 ngày đêm.

Tối đó, D3 xuống thôn Nông Sơn xã Điện Phước, các cuộc giao tranh ác liệt tiếp tục diễn ra, rồi di chuyển dọc đường 100 vào ban đêm. Địch phát hiện, nổ súng chặn lại, nhiều đêm, anh em quyết tử mở đường máu để đi nhưng đều bất thành. Các đêm sau đó đơn vị tiếp tục di chuyển đến các thôn Hạ Nông, Châu Lâu, Đông Hồ, Làng Ngang và cuối cùng là thôn La Thọ, xã Điện Hòa.

Qua thông tin từ điện đài chỉ huy của ta và loa từ máy bay địch kêu gọi đầu hàng, bộ đội D3 biết đơn vị mình đã bị bao vây bởi quân Mỹ. Ban ngày, chúng dồn dập mở các cuộc tấn công vào khu vực đóng quân của D3 (có ngày lên đến 17 cuộc), kết hợp cả bộ binh, xe tăng, đại bác và máy bay dội bom. Nhưng hơn 200 cán bộ, chiến sĩ D3 vẫn kiên cường chống trả quyết liệt, đẩy lùi nhiều đợt tấn công của địch, nhiều đợt xáp lá cà, ta thu được vũ khí địch để đánh địch… Cả đợt chống càn 21 ngày đêm máu lửa, với lực lượng không cân sức D3 đã tiêu diệt và làm bị thương hơn 1.000 tên địch, phá hủy hàng chục xe tăng, bắn rơi 15 máy bay, thu hơn 100 súng các loại. Nhưng quân ta cũng phải trả một cái giá rất đắt: Tiểu đoàn hy sinh gần hết – chỉ còn lại Thủ trưởng Khôi, Tiểu đoàn trưởng đi họp Mặt trận 4 và một ít anh em còn sống. (Sau này Mặt trận 4 tuyển quân xây dựng lại tiểu đoàn với bộ khung là những cán bộ, chiến sĩ còn lại).

Khi viết những dòng này, tim tôi như thắt lại, hình ảnh các anh chiến đấu ngã xuống trước mắt, cứ hiện hữu trong tôi. Hôm đó, khoảng 24.11.1968, đồng chí đại đội trưởng đứng trên miệng hầm chỉ huy trận đánh thì chiếc tàu rà của địch sà xuống bắn một quả rốc-két trúng ngay người, một nửa thân hình còn lại của anh ngã xuống… Cả hầm tôi đang trú dày đặc khói mù cay không ai thở nổi, chúng tôi phải lấy tay khoét đất đưa mũi xuống cố lấy hơi để thở. Cứ thế bom đạn suốt ngày dội xuống khu vực đóng quân.

Tối đến, địch co cụm ra xa hơn, anh em chúng tôi lên khỏi miệng hầm để xử lý gấp rút  thương vong trong ngày: số anh em hy sinh thì đưa xuống các căn hầm bị bom xới rồi lấy xẻng lấp đất lại (có hầm đến 7 liệt sĩ), những thương binh nặng thì khiêng xuống hầm (lúc có điều kiện thì kèm theo ít nước và  gói gạo rang), thương binh nhẹ thì di chuyển theo đơn vị… Tất cả diễn ra dưới làn đại bác và pháo sáng của địch. Cứ mỗi đêm đơn vị di chuyển đi nơi khác là để lại một số anh em thương binh, liệt sĩ như vậy đó!

Đêm 9.12.1968, chúng tôi cùng D3 di chuyển đến thôn La Thọ (nam sông La Thọ) xã Điện Hòa, anh em khẩn trương đào công sự chiến đấu, còn hai chị em chúng tôi trú trong hầm đại bác cùng các anh chỉ huy. Rạng sáng 10.12.1968, các mũi quân của địch đồng loạt tấn công siết chặt vòng vây, anh em D3 không nao núng, chiến đấu kiên cường, dũng cảm đẩy lùi nhiều đợt xe tăng, bộ binh của địch. Đến khoảng 15h, địch vừa ném bom, bắn pháo, vừa siết chặt vòng vây. Căn hầm đại bác mà chúng tôi đang trú bị trúng bom bay mất một nửa, nhiều anh em hy sinh không còn nguyên vẹn. Tôi và chị Trung bị thương nhẹ, cháy sém cả mặt mũi, tóc tai…

Trận chiến trở nên khốc liệt hơn khi hàng chục chiếc trực thăng (sâu đo) chở quân ồ ạt đổ xuống cánh đồng La Thọ siết chặt vòng vây, hai bên giáp chiến, súng nổ liên hồi. Các anh chỉ huy còn lại hét bên tai chúng tôi như một mệnh lệnh: “Chúng mày không được chết ở đây!”. Nói xong, các anh đẩy hai chị em tôi lên khỏi miệng hầm. Trên đầu là hai chiếc máy bay (tàu rà), quần đảo tìm mục tiêu, thấy chúng tôi như thấy miếng mồi ngon, chúng ném quả mù đỏ chỉ điểm cho những chiếc máy bay khác ném bom và bắn xối xả quanh chúng tôi, dưới chân cỏ lùng cao lút đầu, vướng không thể chạy nổi… Không còn con đường nào khác, chúng tôi chạy ra bờ sông La Thọ, quân địch đuổi theo sau… Tiếng súng trong xóm thưa dần… Băng qua hào giao thông, thấy nhiều anh em bị thương nặng nằm la liệt, chúng tôi chỉ kịp rúc nhanh vào bụi cỏ lùng dưới chân các bụi tre gần bờ sông. Tiếng quân Mỹ la hét ngày càng rõ, tiếng đạn M79 nổ ngay cạnh chỗ chúng tôi nằm. Hai chị em tôi mím chặt môi, rút chốt lựu đạn sẵn sàng bung ra sống chết với kẻ thù quyết không cho chúng bắt sống…

Chiều xuống, chúng tôi nghe tiếng lính Mỹ xa dần và nghe được tiếng máy bay hạ xuống cánh đồng, chắc là để hốt quân và số lính chết, bị thương đi. Chiến trường yên tĩnh lạ thường, cái yên tĩnh của sự chết chóc. Bình tâm lại,  tôi lắng nghe, và… tiếng anh em, đồng đội, đồng chí gọi tìm nhau… Tôi khóa chốt lựu đạn rồi chui ra khỏi bụi tre. Trước mắt là cảnh tượng quá thương tâm, rất nhiều chiến sĩ của ta bị địch bắn hy sinh ngay dưới hào giao thông… Các anh du kích, bộ đội còn sống đi tìm những người còn lại và giải quyết thương vong.

Bây giờ đã tròn 52 năm trôi qua  nhưng những hình ảnh các anh hy sinh trong trận chiến vẫn in đậm trong tâm trí tôi. Cứ đến ngày Thương binh – liệt sĩ và các ngày lễ lớn, tôi lại về Nghĩa trang liệt sĩ Điện Bàn để thắp nén hương lòng tưởng nhớ anh em Tiểu đoàn 3 – các Anh hùng liệt sĩ đã hiến dâng tuổi thanh xuân của mình cho Tổ quốc.

Có một điều luôn trăn trở, nhất là mỗi lần nghe chương trình “Nhắn tìm đồng đội” tôi càng day dứt hơn bởi đã chứng kiến các anh nằm lại những căn hầm ở các địa điểm đơn vị đã đi qua. Mong muốn cháy bỏng của tôi và các anh chị em đơn vị D3 là tại nơi các anh hy sinh nhiều nhất (bờ nam sông La Thọ xã Điện Hòa) có được một “Bia tưởng niệm liệt sĩ Tiểu đoàn 3 Mặt trận 4 – Quảng Đà” để anh chị em đơn vị, gia đình, bạn bè và bà con địa phương hương khói các anh trong những ngày lễ, tết, để các anh cảm thấy ấm lòng trên quê hương thứ hai của mình và biết rằng nhân dân Quảng Nam – Đà Nẵng mãi mãi ghi nhớ Tiểu đoàn 3 anh hùng.

NGUYỄN THỊ VÂN LAN

————
(*) Tác giả nguyên là Ủy viên Thường vụ Thành ủy Đà Nẵng, nguyên Phó trưởng Đoàn Đại biểu Quốc hội TP.Đà Nẵng.

Nguồn: Đài Truyền Thanh – Truyền Hình Thị Xã Điện Bàn

Lê Hồng Sơn

Một bình luận trong “Điện Bàn – 21 ngày đêm máu lửa

  1. Kính gửi anh Lê Hồng Sơn : Bài viết rất hay. Kính nhờ anh chuyển giúp thư này cho Bác NGUYỄN THỊ VÂN LAN- nguyên Ủy viên Thường vụ Thành ủy Đà Nẵng, nguyên Phó trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội T.P Đà Nẵng.
    Trân thành cảm ơn anh.
    Chu Văn Đức
    ——————————————-
    Kính gửi bác Nguyễn Thị Vân Lan – nguyên Ủy viên Thường vụ Thành ủy Đà Nẵng, nguyên Phó trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội T.P Đà Nẵng

    Kính thưa Bác Vân Lan

    Cháu là Chu Văn Đức – sinh năm 1960, là con của liệt sỹ Chu Văn Thúc- sinh năm 1937- nguyên chính trị viên phó tiểu đoàn 3 ( trước thuộc trung doàn 36, F308)-Mặt trận 4 – Quảng Đà, đã hy sinh vào khoảng tháng 1.1970 ở vùng Gò Nổi- Điện Bàn.
    Tuần trước cháu tình cờ đoc được bài viết của bác về „Điện Bàn – 21 ngày đêm máu lửa,,

    Cháu rất kính trọng và biết ơn Bác và các cô bác, các liệt sỹ tiểu đoàn 3 cũng như các liệt sỹ khác đã cống hiến tuổi thanh xuân cho đất nước và cho nhân dân.
    Hiện nay cháu sống và làm việc tại Praha- cộng hòa Sec ( Trước là liên bang Tiệp khắc).

    Khoảng đầu tháng 4 năm 2026 cháu sẽ về thăm quê hương. Nếu được Bác cho phép, cháu xin được đến thăm Bác. Xin Bác cho biết địa chỉ.

    Cháu rất ủng hộ mong muốn của Bác và các cô bác đơn vị D3 là tại nơi các liệt sỹ hy sinh nhiều nhất (bờ nam sông La Thọ xã Điện Hòa) có được một Bia tưởng niệm tất cả các liệt sĩ Tiểu đoàn 3-Mặt trận 4 – Quảng Đà. Cháu xin được đóng góp vào việc thực hiện việc này.

    Cháu nghĩ, để thực hiện được việc này, thì cần có giấy phép của ủy ban nhân dân địa phương, giấy phép của phòng xây dựng, danh sách các liệt sĩ Tiểu đoàn 3, vẽ kiểu mẫu bia và vẽ kiểu nơi dựng bia, dự kiến thời gian làm, dự kiến chi phí….Và phần móng nơi dựng bia cần chống chịu được khi vào mùa nước nổi. Khi có các thông tin này, xin Bác và người được bác chỉ định sẽ gửi thông tin cho cháu theo địa chỉ email : altaperfex@gmail.com hoặc qua mạng Viber hay Zalo của số tele. 00420608042999, hoặc qua địa chỉ nhà ở : DAVIDKOVA 684/ 54, 182 00 PRAHA 8, CZECH REPUBLIC.

    Từ năm 1967 cho đến khi hy sinh vào khoảng 15-16/1/1970, bố cháu đều thuộc quân số D3, E36. E36 từ 3.1968 đến năm 1970 chỉ hoạt động ở Duy Xuyên và Điện bàn. Trước tháng 9.1968 bố cháu làm hậu cần đại đội C12,D3. Từ tháng 9.1968 bố cháu làm trợ lý hậu cần D3. Năm 1969 bố cháu về đại đôi C12 của D3 làm chính trị viên phó, sau đó làm chính trị viên trưởng kiêm bí thư chi bộ C12. Cuối năm 1969 bố cháu là chính trị viên phó tiểu đoàn 3(D3, E36). Như vậy ở trận chiến 21 ngày của D3 diễn ra từ ngày 20.11 – 10.12.1968 chắc là bố cháu có tham gia.
    Khoảng cuối năm 1969 – tháng 1/1970 E36 có lệnh giải thể. Tiểu đoàn 3 lúc này có 2 đại đội – được lệnh chuyển thành bộ đội địa phương và bàn giao cho huyện Điện bàn . Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 3 – Nguyễn Minh Nhụy khi đó sẽ là huyện đội phó huyện Điện Bàn. Cho đến dịp tết dương lịch 1970 , mọi sự vẫn bình thường. Ngày 30.12.1969 Ô. Chu văn Thúc ở tiếu đoàn 3 vẫn còn gửi thịt trâu về cho bộ phận trung đoàn 36 để ăn tết.
    Nhưng việc bàn giao này chưa được thực hiện xong thì đã xảy ra sự cố, dẫn đến sự hy sinh của nhiều người, trong đó có bố cháu- Chu văn Thúc: Khoảng ngày 15-16/1 / 1970 do bị gián điệp báo, nên tiếu đoàn 3 bị bao vây. Lúc này chính trị viên phó tiểu đoàn 3 là Chu văn Thúc ở cùng 1 hầm với tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 3- Nguyễn Minh Nhụy và liên lạc viên của tiểu đoàn tên là Hùng . Bố cháu nhảy ra khỏi hầm chiến đấu và yểm trợ cho đồng đội rút lui, sau đó đã bị thương và rồi đã bị địch dùng dao đâm chết, vì bị cho rằng đã bị thương mà vẫn tiếp tục chiến đấu đến cùng.
    Trên giấy báo liệt sỹ thì ghi : Chu Văn Thúc, sinh năm 1937, thượng sỹ – tiểu đội trưởng , đơn vị : KB, hy sinh ngày 18.12.1969 tại mặt trận phía Nam, an táng tại nghĩa trang mặt trận. Trong những năm đó, rất nhiều các trường hợp liệt sỹ khác đều được ghi tương tự như vậy. Bởi vậy gia đình không biết đi đâu để tìm, không biết ai để hỏi. Sau này biết được tình hình, thì gia đình cũng không muốn đề nghị sửa giầy báo liệt sỹ, vì chỉ phức tạp thêm tình hình và cũng không làm liệt sỹ sống lại.

    Mãi đến năm 2000 cháu mới được biết các tin tức kể trên, biết tên đơn vị bố cháu là D3, E36 và nơi hy sinh là ở xã Điện Quang-(nay là xã gò nổi) ở Điện Bàn. Vào mùa hè năm 2000 cháu và gia đình đã gặp các cô bác, các chú sau: Bác Mai Thuận – cựu chính ủy E36, bác thiếu tướng Chí – cựu trung đoàn phó E36 (sau này là cục trưởng cục dân quân). Chú Lê Ngọc Quế nhà ở 32 Đội Cấn , HN, tel. 8430107,0906005252 –trước phụ trách hậu cần D3, sau này là phụ trách hậu cần E36 và chuyển về núi Hòn Tàu, chú Nguyễn Tiến Đạt – nhà ở thôn Phú Đa, xã Đức Thượng, Hoài Đức, Hà Tây. Tháng 9.1968 bố cháu và chú Đạt cùng làm trợ lý hậu cần D3. Cuối năm 1969 chú Đạt chuyển về Miền ở núi Hòn Tàu. Chú Bình – cựu tài vụ E36 ở tập thể thảm len Đống Đa ,HN. Chú Bùi Danh Bàn D3E36 – sau này là hiệu phó trường quân sự ở Hội An , Bác Phan Minh Tân – cựu trưởng ban an táng liệt sỹ , bí thư Đảng ủy xã ở xã Điện Thái cũ ( sau là Điện Thọ ) – bám trụ từ năm 1965- đến 1975. Bác Huỳnh Ngọc Dân – cựu xã đội trưởng xã Điện Tân cũ ( sau là xã Điện Phong), Bác Võ Bản – cựu bí thư xã hồi kháng chiến Điện Hồng cũ ( sau dổi lầ Điện Quang). Bác Nghiêm trưởng ban an ninh xã – nhà ở ngã ba Cẩm lý ở xã Điện Hồng ,…..
    Gia đình cháu chưa gặp được những người trong danh sách sau đây:
    – Ông Trung – thuộc D3 E36, thương binh, đã trở về quê ở Hà tây
    – Ông Nguyễn Ngọc Đức – B trưởng B thông tin thuôc D3 E36.
    – Ông Nguyễn Ngọc Kỵ – trưởng ban tác chiến, nhà ở thị trấn Đức Giang, gần Gia Lâm – Hà nội.
    – Ông Quynh ( hoặc Quýnh ) – C3D3E36
    – Ông Hán – cựu liên lạc D3, đã chuyển nghành về làm việc ở bưu điện Quế Võ. Nhà ở huyện Quế võ và đã về hưu.
    – Ông Hoàng Quang Trung – trưởng ban 5 thuộc E36.
    – Ông Đạm ( người Thái Bình ) D3E36, đã được du kích xã Điện Phong kết nạp vào Đảng.
    – Ông Trần Thanh La – thông tin D3E36 bị địch đổ quân xuống bắt vào năm ….., sau năm 1973 được trao trả, sau năm 1975 trở về Điện Bàn sống, và lấy vợ mới ở Điện Bàn.
    – Ông Nhàn D3E36, người Hà tĩnh – đã ở lại chiến đấu ở xã Điện Hồng cũ sau khi E36 giải thể, năm 1975 đã tiến quân ra Đà Nẵng.
    – Ông Khá D3E36, người Hưng Yên – đã ở lại chiến đấu ở xã Điện Hồng cũ sau khi E36 giải thể.

    Gia đình cũng chưa gặp được những người ở Điện Bàn- Quảng Nam trong danh sách sau đây :
    – Ông Nam – cựu xã đội trưởng xã Điện xuân
    – Ông Phan Phụng Thôi – Xã Điện Thái cũ.
    – Ông Dương Hữu Phần ( Dương Văn Phần ) – cựu xã đội trưởng xã Điện Phần cũ , năm 2000 nhà ở gần cây xăng thị xã Tam kỳ.
    – Ông bảy Thành ( Trần Ngọc Thành ) nhà ở gần nhà ông Trần Thanh la.

    Kính chúc Bác và toàn thể gia đình luôn mạnh khỏe.
    Trân trọng kính chào Bác.

    Cháu Chu Văn Đức
    Tele. 00420608042999
    Địa chỉ số 1 : DAVIDKOVA 684/ 54, 182 00 PRAHA 8, CZECH REPUBLIC
    Hoặc Địa chỉ số 2: JANA VLCKA 922/ 1, 190 00 PRAHA 9 -LETNANY, CZECH REPUBLIC

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *